Nếu bạn là một tín đồ cung cấp thanh khoản trên AMM thì chắc hẳn nỗi sợ lớn nhất của bạn chính là Impermanent Loss. Và đó cũng chính là vấn đề nan giải mà cả thị trường AMM đang gặp phải, nó tạo nên một rào cản lớn khiến người dùng ít quan tâm đến sản phẩm này. 

Và vấn đề đó có thể được giải quyết bởi Yield Basis - dự án do chính nhà sáng lập Curve Finance phát triển. Vậy Yield Basis hoạt động như thế nào, giải quyết vấn đề ra sao? Hãy cùng Hak tìm hiểu trong bài viết này nhé! 

Yield Basis Là Gì? 

Khi cung cấp thanh khoản trên DEX, bỏ tiền vào Pool AMM để kiếm phí giao dịch thì bạn còn phải chịu rủi ro thua lỗ do giá trị tài sản trong Pool giảm khi có biến động giá so với việc chỉ hold tài sản đó, tổn thất này được gọi là Impermanent Loss. 

Và Yield Basis là một dự án DeFi, ra đời để giải quyết vấn đề vừa đề cập ở trên. Đơn giản là bạn cung cấp thanh khoản trên Yield Basis giống như bạn đang hold token mà vừa kiếm được phí giao dịch, không phải chịu bất kỳ tổn thất nào khác dù cho giá tăng hay giảm.

Dự án được thành lập bởi Michael Egorov - chính là nhà sáng lập của Curve Finance, một dự án AMM DEX chuyên cho stablecoin lớn nhất thị trường. 

Bên cạnh đó, Yield Basis còn huy động được 10 triệu đô la, với 5 triệu đô la vốn từ cộng đồng được bán ở định giá 200 triệu đô la, 5 triệu còn lại huy động từ một số nhà đầu tư không được tiết lộ với định giá 50 triệu đô. 

Cơ Chế Hoạt Động Của Yield Basis 

Yield Basis giải quyết vấn đề Impermanent Loss cho nhà cung cấp thanh khoản bằng cách kết hợp đòn bẩy và cơ chế tự động điều chỉnh đòn bẩy cho vị thế thanh khoản của người dùng trên AMM. 

Trước khi tìm hiểu cặn kẽ về cách thức hoạt động của Yield Basis thì bạn cần hiểu được cách hoạt động của AMM và Impermanent Loss diễn ra như thế nào qua ví dụ sau: 

Ví dụ: Giả sử bạn cung cấp thanh khoản cho cặp ETH/USDC trên Uniswap v2 (công thức x * y = k) và trong Pool chỉ có mỗi thanh khoản do bạn cung cấp. 

  • Ban đầu bạn cung cấp 2000 USDC và 1 ETH (giá 1 ETH bằng 2000 USDC), lúc này Pool = 2000 USDC + 1 ETH (x = 2000, y = 1, k = 2000) trị giá 4000 USDC
  • Trader swap 1000 USDC Pool đổi lấy ETH: x mới = 2000 + 1000 = 3000 USDC, suy ra y mới = 2000 / 3000 ≈ 0,667 ETH (Giá ETH lúc này = x mới / y mới = 3000 / 0,6667 ≈ 4500 USDC) 
  • Vậy giá trị tài sản trong Pool sau khi swap = 0,667 ETH * 4500 USDC + 3000 USDC = 6001,5 USDC 
  • Nhưng nếu bạn hold 2000 USDC và 1 ETH ban đầu mà không đem đi cung cấp thanh khoản thì giá trị tài sản của bạn đã có là 6500 USDC
  • Do đó, việc chịu tổn thất gần 500 USDC do cung cấp thanh khoản so với việc hold token này được gọi là Impermanent Loss 

Bây giờ chúng ta cùng tìm hiểu cách Yield Basis loại bỏ Impermanent Loss cho nhà cung cấp thanh khoản qua ví dụ dưới đây: 

Ví dụ: Giả sử bạn cung cấp thanh khoản với 1 BTC trên Yield Basis và trong Pool chỉ có mỗi thanh khoản do bạn cung cấp.

  • Bạn gửi 1 BTC vào Yield Basis, với giá 1 BTC bằng 50k USD   
  • Dự án sẽ vay từ Curve 50k crvUSD để gộp cùng với 1 BTC của bạn đem cung cấp thanh khoản cho cặp BTC/crvUSD trên Pool AMM của Curve 
  • Lúc này thanh khoản trong Pool có giá trị 100k USD, lượng tài sản này đang trong trạng thái thế chấp cho khoản nợ 50k crvUSD (ta có tài sản vay (50k) / tài sản thế chấp (100k) = 1/2)
  • Sau đó, BTC tăng lên 55k USD, lúc này trong Pool sẽ có sự thay đổi số lượng tài sản BTC giảm xuống ≈ 0,9535, crvUSD tăng lên ≈ 52442, giá trị ≈ 104884 USD 
  • Để loại bỏ Impermanent Loss tức là trong Pool vẫn có đủ 1 BTC như ban đầu, thì Yield Basis phải luôn giữ tỉ lệ tài sản vay trên tài sản thế chấp là 1/2. Lúc này giá trị tài sản trong Pool là 104884 USD nhưng trước đây chỉ vay 50k crvUSD, do đó Yield Basis vay thêm 2442 crvUSD từ Curve
  • Yield Basis dùng số tiền mới vay được là 2442 crvUSD tiếp tục cung cấp thanh khoản cho Pool, và dự án phải chuyển đổi số tiền này thành 1221 crvUSD và 0,0222 BTC (1221 USD) theo giá thị trường
  • Vậy sau khi vay thêm và cung cấp thanh khoản thì lúc này Pool có 107328 USD gồm 0,9757 BTC và 53662 crvUSD (và nợ 52442 crvUSD), nếu trừ đi nợ thì bạn có khoảng 54886 USD cũng gần bằng mức 55k tương đương với việc bạn chỉ hold 1 BTC. 
  • Lưu ý: Khi Pool có 107328 USD thì nợ 52442 crvUSD trên tài sản thế chấp vẫn chưa phải 1/2, nên hệ thống sẽ tiếp tục thực hiện thao tác vay và mua thêm tài sản để gửi vào Pool nhiều lần nữa để đạt chính xác 1/2. Nhờ đó, số BTC trong Pool sẽ gần với mức ban đầu (1 BTC) hơn. (Trên thực tế, mỗi khi giá có biến động nhỏ thì Yield Basis sẽ tự động cân bằng tỉ lệ nợ nên tài sản sẽ luôn gần bằng 1) 

(Đối với chiều ngược lại, tức là giá BTC giảm thì Yield Basis sẽ tự động rút bớt thanh khoản gồm BTC và crvUSD theo tỉ lệ 50/50 tại mức giá đó để bán ra crvUSD để trả nợ nhằm đưa tổng nợ trên tài sản thế chấp là 1/2)

Ở ví dụ trên bạn thấy rõ Yield Basis đã giúp bạn tăng số lượng BTC của vị thế so với việc cung cấp thanh khoản thông thường, nhờ đó nó làm giảm đi đáng kể Impermanent Loss cho nhà cung cấp thanh khoản. 

Qua đây chúng ta thấy rõ, điểm mấu chốt của mô hình này là người dùng chỉ cung cấp BTC, dự án sẽ vay thêm stablecoin crvUSD từ Curve để tiến hành cung cấp thanh khoản, và luôn giữ tỉ lệ nợ trên tài sản thế chấp là 1/2 bằng cách cân bằng tự động. Việc này giống nhà cung cấp thanh khoản đang hold 1 BTC nhưng lại có thêm phí giao dịch.

Thực tế, người dùng còn phải chịu lãi vay crvUSD, chênh lệch giá trong quá trình cân bằng tỉ lệ vay nên phí giao dịch trong Pool phải kiếm được cao hơn thì mới có lợi nhuận. Vì thế nên Yield Basis đã dùng Pool AMM stableswap của Curve Finance để tối ưu hóa cho vấn đề này (tập trung thanh khoản trong 1 vùng để kiếm được nhiều phí hơn). 

Tóm lại: Đây là một mô hình khả khi nhưng vẫn tồn tại một số rủi ro, nhất là rủi ro do tác động từ thị trường như biến động giá lớn, phí giao dịch thấp hoặc phụ thuộc vào độ ổn định của crvUSD và Curve Finance. 

Mô Hình Kinh Doanh Của Yield Basis

Mô hình kinh doanh của Yield Basis cũng khá sáng tạo khi nó liên kết được doanh thu giao thức với những holder YB (token quản trị). Cụ thể doanh thu của Yield Basis sẽ đến từ phí giao dịch được tạo ra từ toàn bộ thanh khoản mà dự án cung cấp trên Curve Finance. Trong đó, 50% doanh thu này sẽ tài trợ cho cơ chế tái cân bằng thanh khoản tập trung cho nội bộ của nhóm Curve (bao gồm cả lãi suất vay), và 50% còn lại sẽ phân phối cho các nhà cung cấp thanh khoản. 

Cách phân phối lợi nhuận cho các nhà cung cấp thanh khoản như sau: 

  • Nếu bạn chỉ cung cấp thanh khoản và hold token LP (ybBTC) thì sẽ nhận được lợi nhuận từ doanh thu theo tỉ lệ tương ứng. 
  • Nếu bạn stake token LP (ybBTC) thì bạn sẽ không được chia doanh thu mà đổi lại sẽ nhận được phát thải token YB do những người nắm veYB biểu quyết (theo mô hình veToken). 

Với phần lợi nhuận mà những nhà cung cấp thanh khoản stake LP đã từ bỏ thì sẽ thuộc về những người nắm giữ veYB đã tham gia biểu quyết để phân phối token YB khuyến khích nhà cung cấp thanh khoản. 

Token Yield Basis

Token Yield Basis (YB) được thiết kế theo mô hình ve-Tokenomics cải tiến. Nó cho phép quản trị giao thức phi tập trung, phân phối phần thưởng và tạo sự gắn kết lâu dài cho người nắm giữ token với sự thành công của giao thức.

  • Về Token Allocation: Phân bổ token YB tương đối phức tạp vì nó chia ra thành rất nhiều phần nhỏ. Đáng chú ý là team nắm lượng khá lớn chiếm tới 25%, Curve Finance 8%, dự trữ cho hệ sinh thái và phát triển dự án khoảng 19,9%, quỹ đầu tư và ICO 14,6%. 
  • Về Token Usecase: Token YB có công dụng chính là quản trị và biểu quyết phân phối phát phải YB thể hiện rõ bản chất của một veToken. 
  • Về Vesting Schedule: Lịch trả Token cho Team và quỹ đầu tư diễn ra trong 2 năm (đã bao gồm 6 tháng lock) là một quảng thời gian khá ngắn. 

Tóm lại: Dự án thiết kế tokenomics rất chi tiết, phân bổ đầy đủ cho các bên nhất là có phần dự trữ để phát triển dự án và hệ sinh thái. Nhưng vấn đề là Token YB được thuyết kế chủ yếu để làm Incentive (phát thải token lớn chưa kể unlock token khác) và thiếu sự cam kết dài hạn của đội ngũ dự án qua lịch vesting ngắn hạn. Một vấn đề đặt ra là liệu hết 30% token cho Incentive rồi thì dự án sẽ lấy token từ đâu để tiếp tục mô hình này? 

Tại Sao CEO Curve Finance Lại Xây Dựng Yield Basis 

Như phân tích ở mô hình hoạt đồng của Yield Basis, rõ ràng dự án này có mối liên hệ trực tiếp với Curve Finace. Một mặt nó sử sử dụng Pool AMM của Curve, mặt khác nó vay crvUSD. 

Bản thân Yield Basis là một dự án được xây trong lòng của Curve Finance, tức là toàn bộ thanh khoản của dự án đều nằm trên Curve. Điều này là bắt buộc để cho phép thế chấp thanh khoản đó vay crvUSD. 

Vì những lý do trên nên Michael Egorov là Founder và CEO của Curve Finance đã xây dựng Yield Basis nhằm mang lại lợi ích cho Curve Finance. 

Không những Yield Basis sử dụng sản phẩm của Curve, mà dự án này còn giải quyết được vấn đề Impermanent Loss khi cung cấp thanh khoản. Nhờ đó giúp tăng nhu cầu cung cấp thanh khoản cho Curve. Khi Curve có nguồn thanh khoản dồi dào thì sẽ có mức giá tốt để thu hút nhà giao dịch.

Tóm lại: Lý do lớn nhất để CEO Curve Finance xây dựng dự án Yield Basis là giải quyết vấn đề Impermanent Loss cho nhà cung cấp thanh khoản, đồng thời giúp Curve Finance tăng trưởng. Một động lực khác chính là lợi ích cá nhân, với khoảng 10 triệu đô huy động được và 25% Token phân bổ cho Team. 

Nhận Xét Về Sự Tương Tác giữa Yield Basis Và Curve Finance

Sự tương tác giữa Yield Basis và Curve Finance rất hay, chúng hỗ trợ lẫn nhau để cùng phát triển. 

  • Phía Yield Basis thì họ tận dụng được cơ sở hạ tầng (Pool AMM) và vay stablecoin crvUSD với thanh khoản khá tốt để hoàn thiện sản phẩm của mình. Bên cạnh đó, Yield Basis còn thừa hưởng được thanh khoản và người dùng sẵn có trên Curve Finance. 
  • Phía Curve thì họ cũng nhận được khá nhiều lợi ích như hút thêm thanh khoản và người dùng cho Pool AMM cũng như stablecoin crvUSD. 

Việc Yield Basis được kết nối trực tiếp vào các sản phẩm của Curve là một yếu tố then chốt có thể giúp dự án thành công. Nếu Yield Basis tự mình phát triển Pool AMM hay nền tảng vay stablecoin riêng thì sẽ khó tạo dựng được niềm tin cũng như thu hút người dùng. 

Tổng kết 

Yield Basis đang mang tới một giải pháp cho nhà cung cấp thanh khoản trên AMM, xua tan đi nỗi lo thua lỗ khi tham gia kiếm lợi nhuận trên DEX. Điều này còn mang tính đóng góp to lớn cho toàn ngành DeFi chứ không riêng gì mảng DEX. 

Tuy nhiên, sẽ hay hơn nếu Yield Basis là một sản phẩm của Curve Finance. Vì bản chất hệ thống dự án gần như nằm trực tiếp trên Curve, và Curve phải chịu một số rủi ro liên quan như bảo mật hoặc chấp nhận tài sản thế chấp là LP Token (tài sản rủi ro cao). Khi Yield Basis là một sản phẩm của Curve Finance thì dự án sẽ tạo được lòng tin của thị trường hơn, nhưng hạn chế là sẽ không có token để làm incentive.   

Còn về đầu tư vào token dự án thì bạn nên cân nhắc về một số điểm chú ý như cam kết của team không dài hạn, token chủ yếu thiết kế để làm incentive và sản phẩm vẫn có rủi ro về mô hình kinh doanh.